H'Mong Gallery

Hình ảnh





Bò hmong

Thống kế truy cập

Hiện có 2 khách trực tuyến
Lượt truy cập: 271,790
Ước tính hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò vỗ béo

- Những yếu tố chính tạo giá thành trong chăn nuôi vỗ béo bò:

* Phần chi: gồm có chi phí giống vật nuôi; chi phí thức ăn; khấu hao chuồng trại; chi phí thú y, chi phí nhân công; chi phí quản lý, các khoản thuế, lãi xuất vay ngân hàng

* Phần thu: gồm có thịt và phân bón.

Như vậy giá thành sản phẩm sẽ được tính theo công thức:

Phần chi - phần thu

Giá thành= ------------------------------------------------

Khối lượng sản phẩm tạo ra

- Các yếu tố chính ảnh hưởng đến giá thành thịt bò sau vỗ béo bao gồm:

+ Chi phí con giống: là chi phí mua con giống về vỗ béo. Lợi nhuận càng cao khi giá mua vào càng thấp. Trong chăn nuôi vỗ béo bò, nếu chọn được những con bò gầy thì giá mua bò thường thấp hơn giá bán bò sau khi vỗ béo (theo kết quả điều tra thị trường năm 2008, giá mua bò trung bình là 75 - 80.000 đồng/kg thịt còn giá bán bò sau khi vỗ béo là 80 - 85.000 đồng/kg).

+ Chi phí thức ăn: là giá trị của tổng số thức ăn được đưa đến chuồng nuôi cho gia súc sử dụng. Trong chăn nuôi vỗ béo bò của người Mông, các loại thức ăn chủ yếu là cỏ Voi, cỏ tự nhiên làm nguồn thức ăn thô xanh, các loại cám gạo, bột ngô làm thức ăn tinh. Nguồn thức ăn này người Mông tự sản xuất được, không mất chi phí đi mua ngoài nên rất rẻ, phù hợp với quy mô chăn nuôi nhỏ trong hộ gia đình. Để giảm chi phí thức ăn trong chăn nuôi vỗ béo bò cần:

- Sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, những loại thức ăn có giá trị kinh tế thấp nhưng có giá trị dinh dưỡng.

- Tăng cường chế biến thức ăn để nâng cao giá trị sử dụng và tỷ lệ tiêu hoá.

- Tăng lượng ăn vào, hạn chế lãng phí thức ăn đến mức thấp nhất.

- Phối hợp khẩu phần hợp lý và giá tiền thấp. Nếu trong trang trại hoặc hộ nông dân tận dụng những sản phẩm nông nghiệp họ tự sản xuất ra thì sẽ giảm được chi phí thức ăn vì là hạch toán nội bộ.

+ Chi phí thú y: là toàn bộ tiền chi phí cho tiêm phòng và chữa bệnh. Khâu tác động làm tăng giá thành là chi phí chữa bệnh, do đó cần nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý tốt đàn gia súc, đảm bảo không bị dịch bệnh, tiến tới không phải tốn chi phí chữa bệnh.

+ Chi phí chuồng trại: là phần khấu hao số tiền bỏ ra ban đầu để làm chuồng sau một thời gian sử dụng. Theo ước tính của người Mông, họ thường làm chuồng bò bằng gỗ có chất lượng tốt như gỗ nghiến, gỗ trai, nên chi phí khá cao. Số tiền để dựng một chuồng bò mới hết khoảng 10 - 15 triệu đồng, và thời gian sử dụng bình quân là 25 - 30 năm.

+ Các chi phí khác như: thuế, nhân công, quản lý thường đưa vào giá thành ở những trang trại lớn phải thuê nhân công từ bên ngoài. Trong nông hộ qui mô nhỏ gia đình trực tiếp chăn nuôi sẽ giảm được giá thành vì thực tế không tính được giá trị công trong sử dụng lao động nhàn rỗi. Trong thực tế rất khó tính chi phí nhân công trong qui mô chăn nuôi nhỏ nông hộ.

- Xác định hiệu quả kinh tế: trong chăn nuôi vỗ béo bò, việc tính toán nên căn cứ vào tỷ lệ giá bán thịt xẻ. Kết quả được chúng tôi phân tích trình bày như sau:

Hạch toán kinh tế khi vỗ béo bò

Khoản mục

Đơn vị tính

Thành tiền

- Tiền mua bò

80.000/kg x 112 kg

= 8.960.000 (thực tế mua hết 9 triệu đồng)

- Thức ăn tinh

4.000/kg x 170,25 kg

= 681.000

- Chi phí khác

Thuốc thú y, thuế,…

= 50.000

- Khấu hao chuồng


= 100.000

Tổng chi phí


= 9.791.000

- Tiền bán bò

80.000/kg x 146 kg

= 11.680.000 (thực tế bán được 11,7 triệu)

- Lãi thu được


1.889.000 đồng

- Thu nhập/tháng


630.000 đồng

▲ Chú thích:

- Trong ví dụ minh họa (trường hợp con bò hộ anh Lý Văn Sầu vừa bán trong tháng 10/2008), chúng tôi cùng với anh Sầu ước tính con bò vừa bán có khối lượng trước khi đưa vào vỗ béo là 320 kg, với tỷ lệ thịt xẻ là 35%. Sau thời gian 3 tháng vỗ béo, trọng lượng bò tăng thêm lên 45 kg thịt, khối lượng khi bán là365 kg, với tỷ lệ thịt xẻ đạt mức trung bình của giống là 40%.

Như vậy:Tỷ lệ thịt xẻ của bò trước vỗ béo là: 320 x 35% = 112 kg thịt xẻ

Tỷ lệ thịt xẻ của bò sau vỗ béo là: 365 x 40% = 146 kg thịt xẻ

- Chi phí thức ăn tinh là tổng lượng ngô dùng để vỗ béo trong thời gian 3 tháng. Theo tính toán, giai đoạn vỗ béo bò được chia ra làm 3 phần:

+ Trong 15 ngày đầu: bình quân dùng hết 1,1 kg ngô/ngày. Lượng ngô cần dùng: 16,5 kg.

+ Trong 45 ngày giữa: bình quân dùng hết 1,75 kg/ngày. Lượng ngô cần dùng: 78,75 kg.

+ Trong 30 ngày cuối: bình quân dùng hết 2,5 kg/ngày. Lượng ngô cần dùng: 75 kg.

Như vậy:Tổng lượng ngô dùng hết cho cả quá trình vỗ béo là: 170,25 kg.

Giá trị của lượng ngô đã dùng hết là: 170,25 kg x 4.000/kg = 681.000 đồng

- Các chi phí khác như tiền thuốc thú y dùng cho bò (20.000 đồng tiền thuốc tẩy nội ngoại ký sinh trùng, 10.000 đồng tiền thuốc lặt vặt khác), tiền xin giấy bán bò ở xã (10.000 đồng), tiền phí chợ (10.000 đồng). Công chăm sóc và dắt đi bán không ước tính được (coi như lấy công làm lãi).

Như vậy:Tổng các chi phí phụ khác trong quá trình chăm sóc bò hết: 50.000 đồng.

- Chi phí khấu hao chuồng trại được chúng tôi ước tính như sau: chuồng bò nhà anh làm hết 15 triệu đồng, thời gian sử dụng được trong 30 năm, mỗi năm trung bình nhà anh Sầu nuôi được 5 lứa vỗ béo bò (nuôi gối nhau) xoay vòng liên tục.

Như vậy: Bình quân khấu hao chuồng trại cho một lứa bò hết 100.000 đồng.

- Tiền bán phân coi như tương đương tiền mua thức ăn thô xanh. Điều này được giải thích vì nguồn phân bò không được bán đi mà dùng để chăm sóc cho cỏ nuôi bò, cho ngô, cho lạc, v.v…

▲ Theo tính toán ở trên, chúng ta thấy rằng, thu nhập từ chăn nuôi vỗ béo bò là khá cao, góp phần quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Đây là một hướng sản xuất cần được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển. Từ đó dần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân tộc Mông nói riêng và các dân tộc miền núi nói chung ở nước ta.

Video


Bản đồ

Nguồn gốc


Đối tác chiến lược